“…Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là: “Golgi có nói, “Nghèo đói là trường đại học tốt nhất”. Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ…”.

Ngày 5/9/1997, là ngày tôi rời gia đình đi nhập học ở Đại học Bắc Kinh, khoa Toán. Ngọn khói bếp dài cất lên từ trên nóc ngôi nhà nông dân cũ nát gia đình tôi. Người mẹ chân thập thễnh của tôi đang nấu mì sợi cho tôi, những bột mì này có được nhờ mẹ đổi năm quả trứng gà cho hàng xóm, chân mẹ bị thương vì mấy hôm trước, để thêm tí tiền cho tôi nhập học, mẹ đẩy một xe chất đầy rau từ thôn ra thị trấn, trên đường bị trật chân.

Bưng bát mì, tôi đã khóc. Tôi buông đũa quỳ xuống đất, xoa nắn chỗ chân sưng phồng lên to hơn cả cái bánh bao của mẹ, nước mắt rơi xuống đất… Nhà tôi ở Thiên Tân, làng Đại Hữu Đới, huyện Vũ Thanh, tôi có một người mẹ tốt nhất thế gian tên là Lý Diệm Hà. Nhà tôi vô cùng nghèo khó.

Khi tôi ra đời, bà nội ngã bệnh ngay trên giường sưởi, tôi bốn tuổi, ông nội lại mắc bệnh hẹp khí quản và bán thân bất toại, những món nợ trong nhà lớn dần theo năm. Khi bảy tuổi, tôi được đi học, học phí là mẹ vay người khác. Tôi thường đi nhặt những mẩu bút chì bạn bè vứt đi, dùng dây buộc nó lên một cái que rồi viết tiếp, hoặc dùng một cái dây chun xoá sạch những cuốn vở bài tập đã viết, rồi viết lại lên đó, mẹ thương tôi đến mức, cũng có lúc đi vay vài hào của hàng xóm để mua vở và bút chì cho tôi. Nhưng cũng có những khi mẹ vui vẻ, là khi bất kể bài kiểm tra nhỏ hay kỳ thi lớn, tôi luôn đứng đầu, toán thường được 100/100 điểm. Dưới sự khích lệ của mẹ, tôi càng học càng thấy ham thích. Tôi thực sự không hiểu trên đời còn có gì vui sướng hơn được học hành. Chưa đi học lớp một tôi đã thông thạo cộng trừ nhân chia và phân số, số phần trăm; khi học Tiểu học tôi đã tự học để nắm vững Toán Lý Hoá của bậc Trung học Phổ thông; Khi lên trung học, thành phố Thiên Tân tổ chức kỳ thi vật lý của bậc Trung học, tôi là đứa học trò nông thôn duy nhất của cả năm huyện ngoại thành Thiên Tân được giải, một trong ba người đỗ đầu. Tháng 6 năm đó, tôi được đặc cách vào thẳng trường Trung học số 1 danh tiếng của Thiên Tân, tôi vui sướng chạy như bay về nhà.

Nào ngờ, khi tôi báo tin vui cho cả nhà, mặt bố mẹ chất chứa toàn những đau khổ; bà nội vừa mất nửa năm, ông nội đang gần kề cái chết, nhà tôi đã mắc nợ tới hơn mười nghìn Nhân dân tệ rồi. Tôi lặng lẽ quay về bàn học, nước mắt như mưa suốt một ngày. Đến tối, tôi nghe thấy ở ngoài nhà có tiếng ồn ào. Thì ra mẹ tôi đang định dắt con lừa con của nhà đi bán, cho tôi đi học, nhưng ba tôi không chịu. Tiếng ồn ào làm ông nội nghe thấy, ông đang bệnh nặng, trong lúc buồn bã ông đã lìa đời. Sau lễ an táng ông nội, nhà tôi lại mắc thêm vài nghìn tệ tiền nợ nữa.

Tôi không còn dám nhắc đến việc đi học nữa, tôi cất “Giấy báo nhập học” thật kỹ vào vỏ gối, hàng ngày tôi ra đồng làm việc cùng mẹ. Sau hai hôm, tôi và ba tôi cùng lúc phát hiện ra: con lừa con biến mất rồi. Ba tôi sắt mặt lại, hỏi mẹ tôi: “Bà bán con lừa con rồi à? Bà bị thần kinh à? Sau này lấy gì kéo, lương thực hoa màu bà đẩy xe tay nhé, bà tự cõng nhé? Bà bán lừa một hai trăm bạc liệu cho nó học được một học kỳ hay là hai học kỳ?” Hôm đó mẹ tôi khóc, mẹ tôi dùng một giọng rất dữ dội rất hung dữ để gào lại ba tôi: “Con cái mình đòi đi học thì có gì sai? Nó thi lên được trường số 1 của thành phố nó là đứa duy nhất của cả huyện này đấy, tôi không thể để cho tiền đồ của nó bị lỡ dở được. Tôi sẽ dùng tay đẩy, dùng lưng vác, để cho nó đi học…”

Cầm sáu trăm tệ mẹ vừa bán lừa, tôi thật sự chỉ muốn quỳ xuống dập đầu trước mẹ. Tôi đã thích được học quá rồi, mà còn học tiếp, thì mẹ sẽ khổ sở bao nhiêu, vất vả bươn chải thêm bao nhiêu? Mùa thu năm đó tôi quay về nhà lấy áo lạnh, thấy mặt ba tôi vàng như sáp, gầy da bọc xương đang nằm trên giường sưởi. Mẹ bình thản bảo: “Có gì đâu, bị cảm, sắp khỏi rồi”. Ai ngờ, hôm sau tôi xem vỏ lọ thuốc của ba, thì thấy đó là thuốc ngăn ngừa tế bào ung thư phát triển. Tôi kéo mẹ ra ngoài nhà, khóc hỏi mẹ mọi chuyện là thế nào, mẹ bảo, từ sau khi tôi đi học, ba bắt đầu đi ngoài ra máu, ngày càng nặng lên. Mẹ vay sáu nghìn tệ đưa ba lên Thiên Tân, Bắc Kinh đi khắp nơi, cuối cùng xác định là u nhu ruột bowel polyps, bác sĩ yêu cầu ba phải mổ gấp. Mẹ chuẩn bị đi vay tiền tiếp, nhưng ba kiên quyết không cho. Ông nói, bạn bè họ hàng đã vay khắp lượt rồi, chỉ vay mà không trả thì còn ai muốn cho mình vay nữa! Hàng xóm kể với tôi: Mẹ dùng một phương pháp nguyên thuỷ và bi tráng nhất để gặt lúa mạch. Mẹ không đủ sức gánh lúa mạch ra sân kho để tuốt hạt, mẹ cũng không có tiền thuê người giúp, mẹ bèn gặt dần, lúa mạch chín chỗ nào gặt chỗ đó, sau đó dùng xe cải tiến chở về nhà, tối đến mẹ trải một tấm vải nhựa ra sân, dùng hai tay nắm từng nắm lúa mạch đập lên một hòn đá to…Lúa mạch trồng trên ba mẫu đất của nhà, một mình mẹ làm, mệt đến mức không đứng dậy nổi nữa thì mẹ ngồi xổm xuống cắt, đầu gối quỳ còn chảy máu, đi đường cứ cà nhắc…Không đợi hàng xóm kể hết, tôi chạy như bay về nhà, khóc to gọi mẹ:

“Mẹ, mẹ, con không thể đi học nữa đâu…”. Kết quả, mẹ vẫn tống tôi lên trường. Tiền sinh hoạt phí mỗi tháng của tôi chỉ 60 đến 80 tệ (tương đương 120-160.000 VND), thật thảm hại nếu so với những người bạn học khác mỗi tháng có 200-240 tệ. Nhưng chỉ mình tôi biết, món tiền nhỏ này mẹ tôi cũng phải tằn tiện lắm, từ ngày đầu tháng đã dành từng hào từng hào, bán từng quả trứng gà, rau xanh lấy từng đồng từng đồng, có lúc dành dụm không đủ đã phải giật tạm vài đôi chục. Mà cha tôi, em trai tôi, dường như chẳng bao giờ có thức ăn, nếu nhà ăn rau cũng chẳng dám xào mỡ, chỉ chan tí nước dưa muối ăn qua bữa. Mẹ không muốn tôi đói, mỗi tháng mẹ chăm chỉ đi bộ hơn mười cây số mua mì tôm với giá bán buôn. Rồi mỗi cuối tháng, mẹ vất vả cõng một túi nặng lên Thiên Tân thăm tôi. Trong túi ấy ngoài những gói mì tôm ra, còn có nhiều xếp giấy loại mẹ phải đi bộ ra một xưởng in ngoài thị trấn cách nhà 6km để xin cho tôi (đó là giấy để tôi làm nháp toán), cả một chai tương cay rất to, cải bẹ muối thái sợi, và cả một cái tông đơ để cắt tóc. (Cắt tóc nam rẻ nhất Thiên Tân cũng phải 5 tệ, mẹ muốn tôi dành tiền cắt tóc để mua thêm lấy vài cái bánh bao mà ăn). Tôi là học sinh cấp 3 duy nhất của Thiên Tân đến cả rau ở bếp ăn nhà trường cũng không mua nổi, chỉ có thể mua vài cái bánh bao, mang về ký túc ăn cùng mì sợi khô hoặc chấm với tương ớt, kẹp dưa muối để ăn qua bữa. Tôi cũng là học sinh duy nhất không có giấy kiểm tra, chỉ có thể tận dụng giấy một mặt của xưởng in để viết bài. Tôi là đứa học sinh duy nhất chưa bao giờ dùng xà phòng, khi giặt quần áo tôi thường đi nhà bếp xin ít bột kiềm nấu ăn (alkali – chất kiềm, dùng để hấp bánh bao, làm bánh nướng, làm nước sôđa) là xong. Nhưng tôi chưa bao giờ tự ti, tôi cảm thấy mẹ tôi khổ cực cả đời, như người anh hùng chống lại đói khổ, làm con của người mẹ như thế tôi rất tự hào. Hồi mới lên Thiên Tân, tiết học tiếng Anh đầu tiên khiến tôi ù cạc. Khi mẹ lên, tôi kể cho mẹ nghe tôi sợ tiếng Anh thế nào, ai ngờ mẹ chỉ cười bảo: “Mẹ chỉ biết con là đứa trẻ con khổ cực nhất, mẹ không thích con kêu khó, vì chịu khổ được thì chả còn gì khó nữa.”

Tôi hơi bị nói lắp, có người bảo, học tiếng Anh đầu tiên cần làm chủ được cái lưỡi của mình, bởi vậy tôi thường kiếm một hòn sỏi ngậm vào miệng mình, rồi gắng đọc tiếng Anh. Hòn sỏi cọ xát vào lưỡi tôi, có lúc máu chảy ra bên mép, nhưng tôi cố gắng để kiên trì. Nửa năm trôi qua, hòn sỏi nhỏ đã bị mài tròn đi, lưỡi tôi cũng đã nhẵn, tiếng Anh đã thành người giỏi thứ 3 của lớp. Tôi vô cùng cảm ơn mẹ, lời mẹ khích lệ tôi vượt qua khó khăn lớn trong học tập. Năm 1996, lần đầu tiên tôi được tham gia cuộc thi Olympic tri thức toàn quốc khu vực Thiên Tân, đoạt giải Nhất môn Vật lý và giải Nhì môn Toán học, tôi được đại diện Thiên Tân đi Hàng Châu tham gia Cuộc thi Olympic toàn Trung quốc môn Vật lý. “Đoạt lấy chiếc Cup giải Nhất toàn Trung quốc tặng mẹ, rồi lên đường dự Olympic Vật lý Thế giới!” Tôi không ngăn được nỗi khao khát trong lòng, tôi viết thư báo cho mẹ tin vui và mơ ước của tôi. Kết quả, tôi chỉ được giải Nhì, tôi nằm vật ra giường, không ăn không uống. Dù tôi là người đạt thành tích cao nhất trong đoàn Thiên Tân đi thi, nhưng nếu tính cả những khốn khổ của mẹ tôi vào, thì thành tích này không xứng đáng! Tôi về trường, các thầy ngồi phân tích nguyên nhân thất bại cho tôi thấy: Tôi những muốn phát triển toàn diện cả Toán Lý Hoá, những mục tiêu của tôi quá nhiều nên sức lực tinh thần tôi phải phân tán rộng.

Nếu giờ tôi chỉ chọn một mục tiêu trước mắt là kỳ thi Toán, nhất định tôi thắng. Tháng 1 năm 1997, tôi cuối cùng đã giành chiến thắng tại kỳ thi Olympic Toán toàn Trung Quốc với điểm số tuyệt đối, lọt vào đội tuyển Quốc gia, cả mười kỳ thi kiểm tra ở đội tuyển tôi đều là người đứng đầu. Với thành tích đó, tôi được sang Argentina tham gia kỳ thi Olympic Toán quốc tế. Nộp xong phí báo danh, tôi gói những sách vở cần chuẩn bị và tương đậu cay của mẹ lại, chuẩn bị lên đường. Giáo viên chủ nhiệm và thầy giáo dạy Toán thấy tôi vẫn mặc bộ quần áo thải của người khác cho, những thứ áo quần màu sắc chả đâu vào đâu, kích cỡ khác nhau, bèn mở tủ áo của tôi ra, chỉ vào những áo trấn thủ vá, những áo bông tay đã phải nối hai lần, vạt đã phải chắp ba phân, hỏi tôi:

“Kim Bằng, đây là tất cả quần áo của em ư?”

Tôi chả biết nói sao, vội đáp: “Thầy ơi, em không sợ người khác chê cười! Mẹ em thường bảo, Phúc Hữu Thi Thư Khí Tự Hoa – trong lòng có sách vở tất mặt mũi sáng sủa, em mặc những thứ đồ này đi Mỹ gặp tổng thống Clintơn em cũng chẳng thấy ngượng.” Ngày 27/7, Olympic Toán học Thế giới lần thứ 38 chính thức khai mạc. Chúng tôi thi liên tục suốt năm tiếng rưỡi, từ 8 giờ 30 phút sáng tới 2h chiều. Ngày hôm sau công bố kết quả, đầu tiên công bố Huy chương Đồng, tôi không muốn nghe thấy tên mình; Sau đó công bố Huy chương Bạc, cuối cùng, công bố Huy chương Vàng, người đầu tiên, người thứ hai, người thứ ba là tôi. Tôi khóc lên vì sung sướng, trong lòng tự nói: “Mẹ ơi, con mẹ thành công rồi!”

Tin tôi và một người bạn nữa đoạt Huy chương Vàng kỳ thi Olympic Toán học ngay chiều hôm đó đã được Đài phát thanh Nhân dân Trung ương TQ và Đài truyền hình Trung ương TQ đưa. Ngày 1/8, chúng tôi vinh quang trở về, lễ đón long trọng được Hiệp hội khoa học Trung Quốc và Hội Toán học TQ tổ chức. Khi đó, tôi muốn về nhà, tôi muốn sớm gặp mẹ, tôi muốn chính tay tôi đeo tấm huy chương vàng chói lọi lên cổ mẹ… Hơn mười giờ đêm tối hôm đó, tôi cuối cùng đã đội trời đêm về đến nhà. Người mở cửa là ba tôi, nhưng người một tay ôm chặt lấy tôi vào ngực trước lại chính là mẹ tôi.

Dưới trời sao vằng vặc, mẹ tôi ôm tôi rất chặt…

Tôi lấy tấm huy chương vàng đeo lên cổ mẹ, khóc một cách nhẹ nhõm và sung sướng. Ngày 12/8, trường Trung học số Một của Thiên Tân chật ních người, mẹ được ngồi lên bàn Chủ tịch danh dự cùng với các quan chức Cục giáo dục Thiên Tân và các giáo sư toán học hàng đầu. Hôm đó, tôi đã phát biểu thế này: “Tôi muốn dùng cả sự sống của tôi để cảm tạ một người, là người mẹ đã sinh và nuôi nấng tôi. Mẹ tôi là một người phụ nữ nông dân bình thường, nhưng những đạo lý mẹ dạy tôi nên người đã khích lệ tôi cả đời. Năm tôi học lớp 10, tôi muốn mua cuốn sách “Đại từ điển Anh-Trung” để học tiếng Anh, mẹ tôi không có tiền, nhưng mẹ vẫn nghĩ cách giúp tôi.

Sau bữa cơm sáng, mẹ tôi mượn một chiếc xe cải tiến, chất một xe rau cải trắng, hai mẹ con tôi đẩy ra chợ huyện cách hơn bốn mươi km bán rau. Đến được chợ đã gần trưa, buổi sáng đó tôi và mẹ chỉ ăn hai bát cháo ngô nấu với khoai lang đỏ, lúc đó bụng đói cồn cào, chỉ mong có ai tới mua cho cả xe rau ngay. Nhưng mẹ vẫn nhẫn nại mặc cả từng bó, cuối cùng bán với giá 1 hào một cân. Hai trăm cân rau đáng lẽ 21 tệ, nhưng người mua chỉ trả 20 tệ. Có tiền rồi tôi muốn ăn cơm, nhưng mẹ bảo nên đi mua sách trước, đó là việc chính của ngày hôm nay. Chúng tôi đến hiệu sách hỏi, giá sách là 8 tệ 2 hào 5 xu, mua sách rồi còn lại 1 tệ 7 hào 5 xu. Nhưng mẹ chỉ cho tôi 7 hào rưỡi đi mua hai cái bánh bột nướng, một tệ kia còn phải cất đi để dành cho tôi làm học phí. Tuy ăn hết hai cái bánh nướng, nhưng đi bộ tiếp 40km về nhà, tôi vẫn đói tới mức hoa mắt chóng mặt, lúc này tôi mới nhớ ra tôi đã quên không phần cho mẹ ăn một miếng bánh nướng nào, mẹ tôi chịu đói cả ngày, vì tôi mà kéo xe suốt 80km đường xa. Tôi hối hận tới mức chỉ muốn tát cho mình một cái, nhưng mẹ tôi chỉ bảo: “Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là, Golgi có nói một câu: Nghèo đói là trường đại học tốt nhất. Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ.”

Khi mẹ nói thế mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn ra con đường đất xa xôi, cứ như thể con đường đất đó có thể thông tới tận Thiên Tân, đi thẳng tới Bắc Kinh. Tôi nghe mẹ bảo thế, tôi không thấy đói nữa, chân tôi không mỏi nữa…Nếu nghèo đói là trường đại học tốt nhất, thì tôi muốn nói rằng, người mẹ nông dân của tôi chính là người thầy giáo giỏi nhất của đời tôi.”

Dưới khán đài, không biết có bao nhiêu đôi mắt đã ướt đẫm, tôi quay về phía người mẹ tóc hoa râm của tôi, cúi người xuống kính cẩn…
—————

Trang Hạ (tổng hợp các báo Trung Quốc, cuốn “Tâm hồn cao đẹp”, tự truyện của An Kim Bằng, tự truyện của Lưu Lệ Quyên)

Một câu chuyện cảm động rơi nước mắt, một tấm gương hiếu học đáng khâm phục, một người mẹ nông dân phi thường – tất cả nằm trong cuốn tự truyện “Tâm hồn cao đẹp” của An Kim Bằng.

Jinpeng An bảo vệ Ph.D. năm 2006 tại Đại học Bắc Kinh, luận án
“Twisted Conjugate Actions of Lie Groups and Nonabelian Cohomology”
được viết dưới sự hướng dẫn của GS. Zheng-Dong Wang.

 

Posted in Cuộc Sống, Giáo dục khác | Tagged , , | 1 Phản hồi

Hay là mình giả bộ thôi sân si — PhapSu

via Photo — PhapSu

Posted in Cuộc Sống, Thơ thẩn | Tagged | Để lại bình luận

Lương thiện

14441042_580517095483433_2800315117006572553_n

Người đàn ông này là ai?
Và ông ta có gì để tôi phải kể với các bạn?

Chắc hẳn tất cả mọi người đều sẽ hỏi tôi câu 2 câu hỏi này khi nhìn thấy bức ảnh tôi post lên. Ông không phải minh tinh màn bạc, ca sĩ hay vận động viên nổi tiếng. Đến cái tên ông cũng không hề quen và cũng chẳng có gì đặc biệt. Chưa kể đến một gương mặt khá bặm trợn đậm chất Ý cộng với dáng người thì như thể một trùm mafia chính hiệu. Thú thật, tôi đã nghĩ về ông như thế và liên tưởng đến nhân vật “Bố già” huyền thoại do Marlon Brando thể hiện.

Nhưng ông là Fiorello LaGuardia – thị trưởng TP. New York trong suốt 3 nhiệm kỳ (1934 – 1945). Đó là những năm tháng khó khăn nhất của nước Mỹ khi cuộc Đại suy thoái đang lan rộng như một trận cháy rừng dữ dội.

Và đó là câu chuyện về “Phiên tòa xét xử một vụ ăn trộm bánh mì” ở New York năm 1935.

//

Một buổi tối lạnh lẽo tháng 1/1935, phiên tòa ban đêm đang được tiến hành tại một phường khó khăn nhất thuộc thành phố New York.

Một phụ nữ già và rách rưới được đưa đến, bà bị buộc tội ăn trộm một ổ bánh mì. Khuôn mặt bà u sầu, ẩn trong vẻ u sầu đó là một sự xấu hổ.

Quan tòa hỏi: “Bị cáo, có đúng là bà đã ăn trộm bánh mì không?”

Người phụ nữ cúi đầu và lúng túng trả lời: “Đúng vậy! Thưa quan tòa, tôi thực sự đã ăn trộm bánh mì!”

Quan tòa lại hỏi: “Động cơ ăn trộm bánh mì của bà là gì? Có phải vì đói khát không?”

“Đúng ạ!” Người phụ nữ ngẩng đầu lên, đôi mắt nhìn vị thẩm phán và nói: “Đúng là tôi đói. Con rể đã bỏ rơi gia đình, con gái tôi thì bị bệnh tật còn 2 đứa cháu nhỏ đang chết đói. Chúng đã mấy ngày hôm nay không được ăn rồi. Tôi không thể trơ mắt nhìn chúng chết đói được, chúng vẫn còn quá nhỏ!”

Nghe người phụ nữ nói xong, mọi người xung quanh bắt đầu lầm rầm những tiếng bàn tán.

Tuy nhiên, người chủ cửa hàng nơi bị trộm bánh mì thì không đồng ý tha thứ. “Đây là một vùng kém an ninh, thưa Ngài,” ông nói. “Bà ấy phải bị trừng phạt để làm gương cho những người khác.”

Vị thẩm phán thở dài, nhìn về phía người phụ nữ và nói: “Bị cáo, tôi phải làm việc theo lẽ công bằng, chấp hành theo pháp luật. Bà có hai lựa chọn: nộp phạt 10 đô la hoặc chấp nhận bị giam 10 ngày.”

Thị trưởng của thành phố New York khi đó – ông Fiorello LaGuardia cũng có mặt và ông chính là vị thẩm phán trong buổi tối hôm đó. Khi đọc tuyên án trên, ông đồng thời cũng đưa tay vào túi, lấy ra một tờ tiền và thả vào chiếc mũ của mình. Ông nói lớn:

“Đây là 10 đô la mà tôi sẽ trả cho án phạt này. Ngoài ra tôi phạt mỗi người trong phòng xét xử này 50 cent, đó là số tiền phạt cho sự thờ ơ của chúng ta khi ở cùng khu phố mà lại để cho một người phụ nữ phải đi ăn trộm bánh mì về nuôi cháu. Ông Baliff, hãy đi thu tiền và đưa tặng cho bị cáo.”

Ngày hôm sau, tờ báo thành phố New York đưa tin đã có 47,5 đô la được gửi đến cho người phụ nữ khốn khó kia. 50 cent trong đó là do người chủ cửa hàng tạp hóa đóng góp, ngoài ra còn có khoảng vài chục bị cáo khác đang chờ xét xử, và các cảnh sát có mặt khi đó, họ đều vinh hạnh được đóng góp 50 cent và đứng dậy vỗ tay nhiệt liệt.

//

Về lý thuyết, một phụ nữ ăn trộm bánh mì bị phạt tiền đâu có quan hệ gì đến người khác? Vị Thị trưởng trả lời một cách minh bạch – đó là trả tiền cho sự lạnh lùng của chúng ta.

Ông nói: Giữa con người với con người không phải là không có mối quan hệ, con người đến thế gian này, với tư cách là một phần tử trong xã hội, là đã có khế ước (hợp đồng), tương tự như trong quan hệ lợi ích vật chất là có khế ước pháp lý, về giao lưu chia sẻ trong cuộc sống cũng có khế ước tinh thần.

“Lương thiện” không phải chỉ là một loại phẩm chất đối lập với sự lạnh lùng, gian trá, tàn nhẫn và tư lợi, mà còn là một loại khế ước về tinh thần.

Trong cuộc đời, ai cũng có thể gặp phải cảnh nguy nan khốn khó, ai cũng có thể trở thành kẻ yếu, nếu như chúng ta không giúp đỡ người khác trong lúc nguy cấp, ai có thể đảm bảo rằng mình sẽ không phải “nuốt trái đắng một mình?”

Lòng người chỉ có hướng thiện mới có thể được ánh mặt trời chiếu rọi và “khế ước lương thiện” mới có thể tồn tại phổ biến trên thế giới này. Người hiểu được rằng phải quý trọng loại khế ước này chính là người cao quý. Người hiểu được rằng phải trả tiền cho sự thờ ơ là người sáng suốt. Xã hội đương thời quá lạnh lùng, nếu chúng ta không nhận thức ra và thay đổi, có lẽ chúng ta sẽ vì sự ích kỷ của mình mà phải trả giá thật nhiều!

© Tri Thức

(Theo FB Người Trẻ Nhìn)

Posted in Cuộc Sống | Tagged | Để lại bình luận

rót trà

tumblr_octgastsna1qhp0v3o1_500

Image | Posted on by | Để lại bình luận

Tình đã hết và tình đã chết

14369868_10207461430999365_7200681595332958258_n

Angelina Jolie và Brad Pitt đã quyết định ly hôn, sau một mối quan hệ kéo dài 12 năm và một cuộc hôn nhân mới 2 năm tuổi. Vậy là từ nay, danh từ ghép tên đầy quyền lực của họ Brangelina đã không còn hiệu lực, hoặc chỉ tồn tại trong từ điển mà thôi. Điều gì khiến một cuộc hôn nhân, một mối quan hệ của hai kẻ hoàn hảo và tưởng như trời sinh cho nhau lại dẫn đến tan vỡ?

Ông nhà văn Trăm năm cô đơn Gabriel Garcia Marquez có nói một câu xuất sắc về hôn nhân như thế này: “Hãy luôn nhớ rằng điều quan trọng nhất trong một cuộc hôn nhân tốt đẹp không phải là hạnh phúc mà là sự ổn định”. (Always remember that the most important thing in a good marriage is not happiness, but stability).

Pitt và Jolie, có thể từng rất hạnh phúc, nhưng dường như chưa bao giờ ổn định. Họ hút vào nhau như hai con thiêu thân khi đóng chung trong bộ phm Mr & Mrs Smith, đến mức Pitt quyết định ly hôn Jennifer Aniston ngay sau đó để đến với Jolie, khiến mối quan hệ tay ba này trở thành tâm điểm của báo chí, từ lá cải đến chính thống. Ai mà không nói chuyện của bộ ba này chứ, khi cả ba đều là ngôi sao hạng A được yêu thích hàng đầu Hollywood, khi mà những câu chuyện về ngoại tình và bội phản, về tình yêu và đam mê luôn là những câu chuyện được quan tâm hàng đầu, dù là trong thời đại nào. Bọn họ cũng như chúng ta thôi, cũng say đắm vì tình, cũng lừa dối, cũng ngoại tình và phản bội, quý ông nào chẳng lôi anh Pitt ra để lý giải và biện minh cho những hành động “rất con người” của mình; quý bà nào chả có cớ để buông lời miệt thị kẻ cướp chồng, đứng về phía người bị phản bội. Cuộc tình của Pitt và Jolie, vì vậy không đơn giản là một cuộc tình của hai ngôi sao hạng A của Hollywood, nó còn là dịp để đám đàn ông đàn bà thường dân trên thế giới này được dịp thấy mình gần với họ đến vậy, thoải mái bình phẩm và soi xét họ dễ dàng đến vậy. À, thì ra họ cũng chỉ là con người trần mắt thịt như chúng ta mà thôi.

Pitt và Jolie, có thể có những ngày tháng hạnh phúc cuồng điên vì tình, nhưng có lẽ hiếm khi nào họ có được sự ổn định, theo nghĩa của từ “stability” như ông Marquez nói. Tên của họ, hình ảnh của họ luôn luôn là tâm điểm, luôn là spotlight trên báo chí, ở bất cứ nơi nào họ đặt chân đến, dù là chốn phồn hoa đô hội như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản… hay một nước thứ 3 như Việt Nam hay Campuchia. Có cuộc hôn nhân nào có thể bền vững được, khi bất cứ nhất cử nhất động nào của hai kẻ trong cuộc đều bị ném lên mặt báo, trên những trang tin điện tử viral chóng mặt khắp thế giới và để cho thiên hạ lao vào bình phẩm không mỏi mệt? Điều quan trọng nhất của một mối quan hệ, một tình yêu là sự riêng tư, tôi tin chắc như vậy. Và bộ đôi này, chắc chả bao giờ có được sự riêng tư trong suốt mối quan hệ kéo dài một con giáp của họ. Hết tình tay ba thì đến con cái, hết con nuôi đến con đẻ lại con nuôi, hết dự án điện ảnh này đến chương trình thiện nguyện của Liên hợp quốc nọ, hết hình ảnh gia đình con cái bị theo đuôi trên từng bước chân đến những câu chuyện rất cá nhân như bệnh tật, ung thư vú, chứng chán ăn của Jolie… tất tần tật đều được cập nhật từng giây từng phút, giống như một chương trình reality show miễn phí được truyền hình trực tiếp trên toàn thế giới. Thử hỏi, có cuộc hôn nhân nào có thể bền vững và ổn định được trước những ánh đèn flash luôn dõi theo từng bước chân của bọn họ?

Nếu có một mối quan hệ, một cuộc hôn nhân của hai ngôi sao hạng A nào có thể so sánh với Brangelina thì đó chỉ có thể là Elizabeth Taylor và Richard Burton, trong một mối quan hệ và một cuộc hôn nhân sóng gió mà số lượng bản tin của họ trên báo chí (hồi đó chưa có internet) chỉ có thể tính được bằng con số hàng tấn. Taylor gặp Burton khi cả hai đóng chung siêu phẩm Cleopatra, bộ phim tốn kém nhất trong lịch sử được sản xuất vào năm 1963. Taylor mới đoạt Oscar cách đó 2 năm, là ngôi sao quyền lực hàng đầu Hollywood và được mệnh danh là người đàn bà mắt tím, người đàn bà 31 tuổi đã kịp trải qua 4 đời chồng. Richard Burton là ngôi sao quyền lực ở Anh, được xem là Marlon Brando đến từ xứ Wales và cũng đã có 2 đề cử Oscar. Taylor đóng vai nữ hoàng Cleopatra, Burton đóng vai Mark Antony, vị tướng quân dũng mãnh đem lòng yêu nàng. Đóng xong phim này thì bọn họ về bỏ vợ bỏ chồng để đến với nhau, khiến báo chí hai bờ Đại Tây Dương được dịp lên cơn đồng tập thể. Burton là cuộc hôn nhân thứ 5 của Taylor và Taylor là cuộc hôn nhân thứ 2 của Burton. Cả hai trở thành miếng mồi ngon của báo chí mà nhất cử nhất động của họ đều bị theo dõi, dù cả hai cố vượt thoát ra khỏi những ánh đèn flash của bọn săn tin để tập trung vào sự nghiệp diễn xuất. Taylor có thêm giải thưởng Oscar thứ 2 và Burton có thêm 4 đề cử, đưa tổng số đề cử Oscar lên 6. Nhưng hầu như ngoại trừ bọn Viện Hàn lâm, đám công chúng chỉ quan tâm đến những tin tức xàm xí đú của bọn họ hơn là những bộ phim nghệ thuật nghiêm túc. Cuộc hôn nhân sóng gió của Burton & Taylor kết thúc năm 1974, thọ 10 năm chẵn. Một năm sau, vì tưởng tình chưa dứt, bọn họ tái hôn và cũng chỉ kéo dài được thêm 1 năm. Tính tổng cộng trong một con giáp, họ kết hôn và li dị hai lần. Chuyện chưa từng có ở Hollywood trước đó và cũng chưa thấy lặp lại.

Pitt và Jolie, rất giống Burton và Taylor, khi họ lao vào nhau, ta biết họ là cặp đôi trời sinh, là hai kẻ hoàn hảo dành cho nhau. Không kẻ nào thua kém kẻ nào về danh vọng hay địa vị, sắc đẹp hay tài năng. Và khi họ bập vào nhau, tất cả những điều đó đều được nhân đôi lên. Thử hỏi làm sao bọn họ có thể sống bình yên được?

Lại ông Marquez, trong một câu nói kinh điển khác về hôn nhân, đã viết rằng: “Vấn đề của hôn nhân là nó kết thúc vào mỗi đêm sau khi làm tình và phải xây dựng lại nó mỗi buổi sớm trước khi ăn sáng.”
(The problem with marriage is that it ends every night after making love, and it must be rebuilt every morning before breakfast).

Những kẻ tỉnh táo và trải tình đều phải thừa nhận đây là câu nói quá đúng. Và những cuộc hôn nhân tan vỡ, ta đều thấy một mẫu số chung là bọn họ không có thời gian để “rebuilt” lại trước mỗi buổi sáng sau khi làm tình đêm hôm trước. Pitt và Jolie, chắc cũng khó có thời gian để “rebuilt” bởi bọn họ đã quá mệt mỏi với cuộc sống quá phù phiếm và hào nhoáng, quá nhiều trách nhiệm và quá nhiều vai diễn. Nuôi một đàn con 6 đứa đang tuổi ăn tuổi lớn đã đủ vỡ mặt với một gia đình bình thường rồi, huống chi là còn di chuyển và dắt díu tha lôi nhau từ nơi này qua nơi khác, mà mỗi lần như thế là phải kéo theo một đoàn tùy tùng. Chưa kể, cả hai đều quá tham vọng về nghề nghiệp. Jolie, sau khi đã khẳng định vai trò diễn viên con nhà nòi, muốn tiếp tục khẳng định vai trò đạo diễn, với 4 dự án trong 5 năm qua. Chưa kể còn muốn xây dựng hình ảnh của mình như một power woman, một người đàn bà quyền lực tham gia vào các hoạt động chính trị, trí thức, thiện nguyện toàn cầu. Pitt, ít tham vọng hơn, chỉ muốn đầu tư vào sự nghiệp diễn xuất mà anh ta theo đuổi suốt 30 năm qua. Không chỉ vẫn giữ được vị trí ngôi sao hạng A với những bộ phim lớn, Pitt trở thành nhà sản xuất mát tay với công ty Plan B, mấy năm rồi đều có phim lọt vô chung kết Oscar như Moneyball (2012), 12 Years a Slave (2014) và The Big Short (2016), trong đó Pitt giành được một giải Oscar cho phim hay nhất nhờ 12 Years a Slave.

Tham vọng sự nghiệp là một trong những lý do khiến cuộc hôn nhân của họ nguội lạnh. Riêng trong năm 2016 này Pitt có 2 bộ phim đóng vai chính và 6 dự án khác cả truyền hình lẫn điện ảnh giữ vai trò nhà sản xuất, khiến anh ta gần như không có thời gian ở nhà để cứu vãn một cuộc hôn nhân bên bờ vực từ vài năm nay.

Nếu ai đã xem By the Sea, bộ phim do chính Angelina Jolie viết kịch bản và đạo diễn; công ty của Brad làm sản xuất và cả hai đóng chung với nhau để kỷ niệm mối quan hệ kéo dài 10 năm, ta có thể thấy được “mùi” báo trước của một cuộc hôn nhân tan vỡ mà cả hai chắc chắn đã trải nghiệm trước đó trong cuộc hôn nhân của chính mình. Đó là một bộ phim nhàm chán toàn tập, một dự án thất bại thảm hại của họ, của hai ngôi sao quyền lực và như báo trước cho sự tan vỡ ngày hôm nay. Trong By the Sea, Pitt và Jolie vào vai một cặp vợ chồng trí thức của Mỹ, đến nghỉ dưỡng tại một bờ biển miền nam nước Pháp (phim được quay tại đảo quốc Malta đẹp rụng rời) để hàn gắn một cuộc hôn nhân đang bên bờ vực tuyệt chủng. Jolie vào vai Vanessa, một cựu vũ công ballet, diễn viên sân khấu; Pitt vào vai Roland, một nhà văn khá thành công. Ngôi biệt thự bên bờ biển đẹp lộng lẫy, nhưng vẫn không cứu được sự nhàm chán đến tuyệt vọng của họ. Vanessa hàng ngày đội mũ rộng vành, đeo kính to bản và nằm trên những chiếc ghế bành hướng mắt ra phía biển, mặt không có một chút sinh khí nào, chán chường tuyệt vọng đến nỗi ta có cảm giác con ruồi đậu trên mặt chị cũng chẳng buồn đuổi. Roland ngày ngày lang thang vào thị trấn, uống rượu đến say xỉn rồi về khách sạn, nằm lăn lên giường và ngủ. Không biết bọn họ đã ở trong tình trạng này được bao lâu, họ chẳng buồn làm tình và cũng chẳng buồn “rebuilt” lại cuộc hôn nhân vào mỗi buổi sáng sớm. Họ chán nhau và chán cả cảnh vật, như Roland nói, “ở đây anh chán quá, chẳng phải vì nơi này mà chỉ vì bản thân anh thôi”. Đúng là cái chán chường mỏi mệt ấy từ bên trong họ chứ chẳng phải bên ngoài. Đối lập với họ là cặp vợ chồng trẻ người Pháp mới cưới ở phòng bên cạnh, cách nhau chỉ một cái lan can hướng ra biển. Vanessa thường mở một cái lỗ nhỏ thông giữa hai phòng để nhìn trộm đôi tình nhân ân ái cuồng nhiệt, đặc biệt là sự trẻ trung, quyến rũ của cô vợ Lea, do cô đào Pháp Mélanie Laurent đóng. Và trong một đêm mất ngủ, cô tát vào mặt Roland, đánh thức anh ta dậy và hỏi trong sự ghen tuông, “Anh có muốn fuck cô ta không?”. Roland, bực bội vì bị đánh thức trong giấc ngủ, trả lời cáu kỉnh:
“Tại sao em nhét suy nghĩ đó vào đầu anh, chỉ vì em muốn được làm cảm giác của kẻ bị hại? Chỉ vì em muốn hủy diệt em và hủy diệt chúng ta?”

Vanessa, trong nỗi tuyệt vọng, chán chường (phần kết lý giải khá rõ ràng, nếu các bạn đủ kiên nhẫn để xem hết bộ phim dài 2 tiếng mà như một thế kỷ này), gần như muốn hủy diệt tất cả, và đúng như Roland nói, cô tự đưa mình vào vị thế của một kẻ bị hại, bị phản bội, dù chỉ là trong tưởng tượng. Điều này xem ra khá giống với tình thế của cuộc hôn nhân giữa Pitt và Jolie hiện nay, khi nhiều tờ báo lại đổ tội cho người thứ 3, cô đào nước Pháp Marion Cotilard khi Pitt và Cotilard đóng cặp đôi tình nhân trong bộ phim về thế chiến 2 Allied, sắp chiếu vào tháng 11 tới. Và By the Sea, bộ phim thất bại của cả hai, một dự án để hàn gắn lại tình yêu của một cặp vợ chồng thập niên 70, lại như phản chiếu chính cuộc hôn nhân của Pitt và Jolie vậy. Đoạn kết của bộ phim có vẻ có hậu, khi cả hai xách va li và rời khỏi bờ biển. Roland lái chiếc xe mui trần, Vanessa ngồi bên cạnh và máy quay dừng lại ở khoảnh khắc cuối cùng, khi Vanessa hướng mắt sang Roland để tìm kiếm một sự tin cậy, một sự bảo chứng cho mối quan hệ trong tương lai của họ. Hoặc là tôi suy diễn vậy.

Nhưng khoảnh khắc tôi nhớ nhất, vào lúc này, chính là hình ảnh hai vợ chồng họ, kẻ nằm người ngồi trên chiếc giường sang trọng; máy quay focus vào gương mặt của Vanessa, hay Angelina Jolie và cô hỏi chồng: “Chúng ta có ổn không?”

Roland, hay Brad Pitt, dựa đầu vào gối, mặt hướng đi nơi khác, trả lời vợ trong nỗi chán chường không che dấu được:

“Chúng ta như thế này đã lâu rồi.”

Và lúc đó, ta đã biết rằng cuộc tình của họ đã hết. Và tình của họ đã chết mà chẳng kịp làm tình tối hôm trước, trước khi kịp “rebuilt” vào bữa ăn sáng ngay hôm sau.

(The FB Le Hong Lam)

Posted in Cuộc Sống | Tagged , , , , | Để lại bình luận

Ấm nồng

Xin anh đừng là mây bay
Suốt đời em không với tới
Xin anh đừng là con suối
Bởi nguồn sẽ đổ về sông

Xin anh đừng là vừng đông
Cho em chói loà đôi mắt
Xin anh đừng là khoảnh khắc
Để rồi tan biến hư vô

Anh đừng là ngôi nhà to
Để em đi qua ngần ngại
Anh đừng là bờ, là bãi
Đổi thay dâu bể cuộc đời.

Anh cứ là anh, thế thôi
Ấm nồng vòng tay thân thiết
Nơi em gục vào quên hết
Khổ đau cơ cực đời thường.

(thơ Đỗ Thị Thanh Bình)

>> Nghe Hồng Nhung hát những lời thơ:
http://mp3.zing.vn/embed/song/ZW60FDZA?start=true

Posted in Thơ thẩn | Tagged , | Để lại bình luận

Ông có biết tôi là ai không?

Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn ba mươi lăm năm trước.

Một bữa đang ngồi trong quán cà phê ở Sài Gòn, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi : “Ông biết tôi là ai không ?”

Quả thật lúc ấy, tôi không biết ông ta là ai thật. Ông không phải là một tài tử, một nhà văn, hay một chính trị gia nổi tiếng để tôi phải biết. Tôi đành ngồi đó, chịu thua ông, không có câu trả lời.

Ít lâu sau, tôi được cho biết ông là đàn em của một quan chức lớn, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút “hào quang” vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi.

Sang đến Mỹ, thỉnh thoảng tôi cũng bị hỏi câu hỏi đó, mà đau cho những người đó, cả Mỹ lẫn Việt, tôi không bao giờ có câu trả lời cho câu hỏi đó của họ cả. Họ thì nghĩ tôi phải biết họ, mà thật tình, tôi thì không hề biết họ bao giờ. Và cứ mỗi lần bị những nhân vật như thế cật vấn, thì tôi chỉ biết ngẩn mặt ra, giả bộ lục lọi cái trí nhớ thảm hại của tôi để tìm câu trả lời cho người nổi tiếng nhưng vô danh và không ai thèm biết đó.

Mấy tháng trước, trong chuyến về lại Los Angeles, California , tôi phải ghé lại Newark, New Jersey để đổi máy bay. Phi cơ của tôi bị trễ hơn một tiếng. Hành khách có một số rất bực bội vì công việc bị xáo trộn do sự chậm trễ của máy bay gây ra.

Tại quầy bên cạnh cổng 112, một tiếp viên dưới đất của công ty đang cố giải quyết những yêu cầu, khiếu nại của khách hàng thì bỗng nhiên một hành khách có vẻ tức tối lắm, lấn lên phía trên, len qua mặt mấy người khác và ném tấm vé lên quầy.

Ông ta nói lớn rằng ông ta muốn được cho bay chuyến sớm nhất và phải xếp cho ông ta ngồi hạng nhất. Người tiếp viên trả lời rằng cô xin lỗi về những phiền nhiễu mà chuyến bay gây ra cho ông, nhưng cô cũng phải giải quyết những hành khách tới trước và hứa là sẽ giúp ông khi đến lượt ông.

Nhưng ông khách không bằng lòng, ông hỏi như hét vào mặt cô, rõ ràng là để cho các hành khách khác cũng nghe được. Ông hỏi đúng câu mà tôi cũng bị hỏi mấy lần : “Cô biết tôi là ai không ?” (Do you know who I am ?).

Thì ra người Mỹ, trẻ và xinh như cô tiếp viên cũng bị hạch hỏi bằng câu đó chứ chẳng riêng gì tôi. Tôi liền cố lắng tai nghe xem cô tiếp viên ở quầy trả lời như thế nào để biết mà ứng phó sau này.

Người phụ nữ này, vẫn tươi cười, cầm chiếc micro của hệ thống khuếch âm lên và nói lớn bằng giọng rành rẽ rằng: “Ở quầy 112, có một vị hành khách không biết mình là ai, quí hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước hay thân thế của ông, xin tới quầy 112.”

Ông khách tự nhiên, vì chính câu hỏi của ông, biến thành một bệnh nhân tâm thần, một người mắc Alzheimer, một người lãng trí, tâm lý, thần kinh thác loạn, lẫn lộn bản thể, không còn nhớ mình là ai, tên gì, ở đâu nữa. Và lúc ấy thì đám hành khách đang sốt ruột đứng trước quầy đều phá ra cười.

Ông khách điên tiết, chỉ mặt người tiếp viên ở quầy và bật ra một câu chửi thề tục tĩu : “Đ.M. mày”( F,,k you) .

Người phụ nữ ở quầy, không một chút giận dữ, bằng giọng bình thản, trả lời ông nguyên văn như thế này : “I’m sorry, sir, but you’ll have to stand in line for that, too”.( Thưa ông, chuyện đó, chuyện ông đòi giao hợp với tôi, ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt mới được.)

Chao ôi, hay biết là chừng nào ! Thế mà tôi không nghĩ ra từ bao nhiêu năm nay để mà ấm ức không nguôi.

Bây giờ, nếu người đàn ông ngày xưa ở Saigon hay dăm ba người khác đặt lại câu hỏi đó với tôi, thì tôi đã có ngay được câu trả lời học được của người tiếp viên phi hành ở phi trường Newark, New Jersey hai hôm trước.

Bùi Bảo Trúc

-Theo gocnhinalan.com

Posted in Cuộc Sống | Tagged , | Để lại bình luận